Niềm hy vọng đang ở giữa chúng ta


NIỀM HY VỌNG ĐANG Ở GIỮA CHÚNG TA

  
Thiên Chúa của yêu thương và thành tín

Mùa vọng đã về,

Giáo hội dành hẳn thời gian bốn tuần để chúng ta suy niệm: “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đén nỗi đã ban chính Con Một của Người. Ai tin vào Người Con đó sẽ được cứu độ” (Ga 3,16)

Tác giả thư Do Thái cho chúng ta một chi tiết quan trọng: “Bấy giờ con liền thưa: Lạy Chúa này con xin đến để thực thi ý Cha” (Dt 10,7). Theo Thánh Irenê: Thiên Chúa giáng sinh làm người để con người làm con Thiên Chúa.

Suy niệm về tình yêu của Thiên Chúa, thánh Phaolô đã cho chúng ta một bản tóm tắt về Đấng giáng sinh làm người: “Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình,vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết,chết trên cây thập tự.” (Pl 2,6-8)

Kinh Thánh Cựu Ước đã mô tả Tình yêu Thiên Chúa như tình yêu của một chàng lãng tử say mê cô thôn nữ (x. Hs, Dc). Dân Thiên Chúa được ví như người tình của Giavê, Đức Chúa tỏ tình với dân như người yêu sắp cưới (Dc 4, 12-16). Cô gái Israel quá được yêu thương nhưng lại vong thân, thất nghĩa, ngoại tình, phản bội Đức Chúa là Đức lang quân. Nhưng cho dù dân có bất trung, Người vẫn trung tín và yêu thương đến cùng. Đức Chúa lại tiếp tục tái lập hôn ước với người vợ bất trung ấy (Hs 2, 16-25).

Thiên Chúa yêu thương cũng được tỏ bày như người mẹ, người mẹ hiền ấp ủ con thơ (Is 49, 13-16). Người mẹ trao ban sự sống cho con mình thế nào, thì Thiên Chúa cũng là sức sống cho dân Người như vậy (Gr 31, 1-9). Lịch sử cứu độ là lịch sử của những mảnh đời được Chúa xót thương.

Rải rác đây đó, ta vẫn bắt gặp hình ảnh Thiên Chúa gần gũi với con người, đi bên đời họ, chữa lành những đau khổ thể xác và tâm hồn. Đi đến đâu, Người thi ân giáng phúc đến đó, dẫu cho con người khước từ hay vong ơn.

I. NHỮNG BƯỚC THĂNG TRẦM CỦA ĐỜI DÂNG HIẾN

Mùa vọng kéo dài trong bốn tuần lễ tượng trưng cho sự mong mỏi trông chờ Đấng Cứu Thế đến. Lịch sử ơn cứu độ cũng là lịch sử của mỗi cuộc đời chúng ta. Chúa đồng hành và tham dự cuộc đời với ta.

1. Những cú “đảo phách” giữa bản trường ca cuộc sống

Cuộc sống không phải lúc nào cũng bằng phẳng, mà dẫu có bằng phẳng, chắc gì đã phải là hay. Ví như bản nhạc lúc nào cũng đều đều, thì chỉ là những nốt nhạc xếp bên cạnh nhau, chứ đâu phải là bản hoà âm, là tác phẩm.

Trong bản nhạc, những cú đảo phách là cần thiết. Hay ví như mặt hồ lúc nào cũng yên ả, không một đợt sóng, thì mặt hồ cũng buồn tẻ. Nhiều khi những đợt sóng làm mặt hồ sinh động hơn. Chúng ta không đi tìm những sóng gió trong cuộc sống, nhưng khó khăn ắt sẽ đến.

Có những khó khăn nằm thâm căn cố đế trong lòng mình, có những khó khăn do môi trường, xã hội, hay hoàn cảnh tạo nên. Chúng ta đã có kinh nghiệm về khó khăn, hoặc rồi sẽ phải đối diện.

Tôi đã cố gắng mãi mà sao không hoà nhịp với cộng đoàn được, không thể thương cái thằng sống bên cạnh mình. Mỗi giờ kinh đối với tôi sao mà rời rạc, vô vị quá.

Tôi đã cố cởi mở với mọi người, nhưng sao chỉ thấy vỏ ốc đời mình mới là chốn tôi tin tưởng dung thân. Tôi đã rất thận trọng trong mọi mối tương quan, nhưng làm sao vẫn thấy đổ vỡ, hay lệ thuộc.

Tôi đã cố gắng vượt qua sự yếu đuối của mình, nhưng sao lỗi phạm mãi vẫn không buông tha tôi. Tôi rất muốn tha thiết với đời tu, nhưng sao bản thân tôi vẫn quá nhiều dính bén tình cảm, danh vọng, tiền bạc…

Nếu muốn làm một bản liệt kê những “cú đảo phách” như thế, chắc hẳn chúng ta có thể kể ra đây nhiều hơn nữa.

Dẫu cho có những lúc chúng ta gặp khó khăn, khủng hoảng như thế, hay có thể bi đát hơn nữa, chúng ta không được quyền thất vọng. Tôi vẫn thích câu nói của Cựu Bề trên tổng quyền Timothy Radcliff : “Khủng hoảng là dấu hiệu của sự sống”.
Trong cuốn “Những người lữ hành trên đường hy vọng”, Đức cố Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận có trích lại những tâm tình của cha Charles de Foucauld, đáng để chúng ta suy gẫm :

Dù con xấu xa, dù con tội lỗi, con cũng trông cậy vững chắc rằng con sẽ được lên trời. Chúa cấm con thất vọng về điều đó.

Dù con bội bạc cách mấy, khô khan cách mấy, hèn nhát cách mấy, lợi dụng ơn Chúa cách mấy, Chúa vẫn cứ bắt buộc con phải hy vọng được sống đời đời dưới chân Chúa trong tình thương và sự thánh thiện.

Chúa cấm con ngã lòng trước sự khốn nạn của con. Chúa không cho con nói : “Tôi không thể đi tới được, đường lên trời khó khăn quá, tôi phải thụt lùi và trở xuống chỗ thấp”.

Trước những sa ngã trở đi trở lại của con, Chúa lại cấm không cho con nói: “Tôi không thể sửa mình được, tôi không có sức để nên thánh, tôi không xứng đáng để vào Thiên Đàng…”

Vậy Chúa muốn con phải trông cậy luôn vì Chúa ra lệnh, và vì con phải tin vào quyền năng và tình thương của Chúa”.
(Số 547-548)

2. Những dấu lặng cần thiết

Lại trở về với bản nhạc, bản nhạc hay có khi là nhờ những dấu lặng, những dấu lặng làm cho cảm xúc con người được dâng trào, được cảm thụ.

Trong bản nhạc cuộc đời, cũng rất cần những dấu lặng như thế. Nếu thiếu sự hồi tâm, thiếu đời sống cầu nguyện, thiếu những giờ phút thinh lặng chỉ mình mình đối diện với Chúa, thiếu những phút giây hoàn toàn thoát ly mọi công việc để nhìn lại chính mình… thì chúng ta rất khó có thể vượt qua và đứng vững trước sóng gió là những cơn cám dỗ, là những dịp tội, là những đam mê, là những đổ vỡ trong tương quan, là những thất bại trong cuộc sống, là những lúc bị hiểu lầm, chống đối …
Trước những biến cố quan trọng, Đức Giêsu luôn rút vào nơi thinh lặng và cầu nguyện với Chúa Cha. Người cũng mời gọi các môn đệ hãy rút vào nơi thanh vắng để nghỉ ngơi đôi chút. Chúng ta cũng được mời gọi dành những phút giây thinh lặng như thế, để có thể nghe được tiếng Chúa nói với mình trong từng biến cố; và đặc biệt, trong thinh lặng ta được mời gọi đi vào mối tâm giao thân tình với Đức Giêsu, Người là Đấng sẻ chia trọn vẹn mọi thành công và thất bại của ta trong cuộc sống, cùng chung vai gánh vác với ta những gánh nặng phận người.

3. Thiên Chúa : một nhạc sĩ hoà âm tuyệt vời

Trong đêm vọng phục sinh, Giáo hội đã phải thốt lên những lời vui sướng : “Ôi tội hồng phúc”. Thiên Chúa tạo dựng chúng ta cách lạ lùng, nhưng cứu chuộc còn lạ lùng hơn nữa. Theo lẽ tự nhiên, sau khi nguyên tổ phạm tội, là chúng ta thua rồi, vô phương cứu chữa. Nhưng biệt tài của Thiên Chúa là Người có thể vẽ đường thẳng bằng những nét cong. Thiên Chúa nghệ sĩ là vậy. Hơn thế, Người còn là Cha của chúng ta nữa.

Khi chiêm ngắm về kế hoạch cứu độ nhiệm mầu của Thiên Chúa, thánh Phaolô, đặc biệt trong thư gởi tín hữu Rôma, đã cho chúng ta những xác tín hết sức mạnh mẽ: “Ở đâu tội lỗi đầy tràn, thì ở đó ân sủng còn chứa chan gấp bội”; “Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh ích cho những ai yêu mến người”; “Tôi tự hào về những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Đức Kitô thể hiện trong tôi”; “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô…?” Những xác tín ấy, là nguồn động lực rất mạnh giúp chúng ta luôn giữ vững niềm hy vọng.

Hãy can đảm trao phó cuộc đời chúng ta cho Chúa, tin tưởng vào Người, Người sẽ ra tay. Thánh Phaolô còn mời gọi chúng ta hãy hy vọng ngay cả khi không còn gì để hy vọng nữa (Rm 4,18-25). Bởi vì niềm hy vọng của chúng ta không phải là niềm hy vọng hão huyền, nhưng là niềm hy vọng đặt nền trên lời hứa của Thiên Chúa (Dt6,10-20). Chính khi có một niềm hy vọng son sắt, vàng đá, chúng ta mới có thể trả lời cho những ai chất vấn về niềm hy vọng của chúng ta.
 
II. HY VỌNG : MỘT NẺO ĐƯỜNG TÂM LINH CHO CON NGƯỜI THỜI ĐẠI HÔM NAY


1. Bước đi lầm lũi trong đức tin, là lối diễn tả một niềm hy vọng

Có những mảnh đời, thoạt trông như không còn một chút niềm hy vọng, nhưng họ vẫn lầm lũi bước đi, vẫn mơ hồ chờ đợi một chút ánh bình mình loé rạng dẫu cho cả cuộc đời mình là đêm đen, giông tố. Chính những bước chân lầm lũi ấy, diễn tả một niềm hy vọng lạ lùng; nói như ngôn ngữ của thánh Phaolô, đó là hy vọng ngay cả khi mình không con gì đễ hy vọng nữa.(Rm 4,18-25).

Cha Timothy Radcliffe có một lối diễn tả bằng hình ảnh rất hay, con người sống niềm hy vọng giống như một kẻ ngồi chờ ở trạm xe buýt, dù chưa thấy bóng dáng chiếc xe đâu, nhưng lòng vẫn tin chắc rằng thế nào xe cũng đến. Hoặc niềm hy vọng được diễn tả như hình ảnh chị đan sĩ ngồi gảy đàn trong đêm vọng phục sinh với ngọn nến cháy sáng làm rạng rỡ khuôn mặt chị, còn xung quanh chỉ là bóng đêm mịt mù.

Chấm này nối tiếp chấm kia, ngàn vạn chấm thành một đường dài. Phút này nối tiếp phút kia, muôn triệu phút thành một đời sống.

Chấm nối chấm cho đúng, đường sẽ đẹp. Sống mổi phút cho tốt, đời sẽ thánh. Đường hy vọng do mỗi chấm hy vọng. Đời hy vọng do mỗi phút hy vọng”.[1]
 
2. Thánh Thần luôn tác động trong mọi biến cố của cuộc sống

Dọc theo dòng lịch sử cứu độ, chúng ta thấy xuyên qua biết bao biến cố thăng trầm, tội lỗi của dân Chúa, Thánh Thần Chúa vẫn luôn hiện diện, và Người có thể rút tỉa từ sự dữ những điều lành cho con người.

Trong lịch sử Hội thánh, chúng ta thấy không thiếu những lúc đen tối, nhưng Thánh Thần vẫn dẫn dắt Hội thánh qua những khó khăn, Hội thánh vẫn được thanh luyện, và vẫn là hiền thê xinh đẹp của Đức Giêsu.

Qua một cơn lũ lụt, nhà cửa bị cuốn trôi, bao người phải chết chóc, đói khổ… nhưng, sau đó, đồng ruộng lại được phù sa bồi đắp, đất đai lại mầu mỡ hơn. Đặc biệt hơn nữa, trước khi xảy ra thiên tai, nhà ai người đó ở, việc ai người đó làm, nhưng khi xảy ra tai ương, mọi người sát lại gần nhau, chia sẻ cho nhau miếng cơm manh áo; tình làng nghĩa xóm, tình nghĩa đồng bào lại rực sáng lên, làm ấm lòng những ai đang lạnh giá.

Người sống niềm hy vọng phải luôn nhìn thấy dấu hiệu sự sống ngay trong đống đổ nát, chết chóc; phải nhìn thấy ngay trong đống tro tàn vẫn còn than hồng âm ỷ, có sức bùng cháy lên mãnh liệt; phải thấy không bao giờ con người là thua cuộc, vì vẫn còn Thiên Chúa đỡ nâng.

3. Tôi biết tôi đặt niềm hy vọng vào ai

Nẻo đường hy vọng là nẻo đường rất đẹp, và chắc chắn dẫn chúng ta đến đích; bởi vì chúng ta biết chúng ta đặt niềm hy vọng vào ai, vào Đấng nào. Đức Giêsu chính là đối tượng niềm hy vọng của chúng ta. Người đem đến cho chúng ta niềm hy vọng cứu độ, niềm hy vọng được sống vĩnh cửu. Đức Giêsu chính là trung tâm điểm của lịch sử, là Đấng các ngôn sứ loan báo, là điểm thành toàn của lời hứa Thiên Chúa xưa kia.

Chính Người là Đấng sẽ lấp đầy niềm hy vọng cháy bỏng của con người thời đại hôm nay. Người là Đấng muôn dân trông đợi, là Đấng Cứu Độ duy nhất, là đường, là sự thật, và là sự sống. Chính Đức Giêsu đã nói: “Thầy đến để thế gian được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10).

Đức Giêsu chính là đích điểm niềm hy vọng, là hạnh phúc đích thực của con người. Niềm hy vọng của con người mãi mãi là trống rỗng nếu không đạt đến Đức Kitô, nếu không được Người chiếm hữu, lấp đầy.

 “Vì Lạy Chúa, chính Ngài là Đấng con trông đợi,
lạy Đức Chúa, chính Ngài là Đấng con tin tưởng
ngay từ độ thanh xuân …
Cả lúc con già nua da mồi tóc bạc,
lạy Thiên Chúa, xin đừng bỏ rơi con”. (Tv 70).
 
Kết luận: Hy vọng đã vươn lên…

Thánh Kinh đã cho chúng ta biết Thiên Chúa làm người và trở nên quà tặng cho chúng ta (x. Is 9,5). Ngài đã đồng hành với chúng ta bằng cách Nhập thể và sống thân phận loài người như ta. Niềm hy vọng của chúng ta không phải chỉ là những ngôn từ đẹp trên chữ viết, không phải là món quà quý cất kỹ và lấy ra dùng khi có dịp cần đến, và càng không phải là mớ lý luận, suy tư thần học suông; nhưng niềm hy vọng ấy là chính cuộc sống cuả chúng ta.

Làm sao trong mọi lúc, mọi nơi, mọi suy nghĩ, hành xử, chúng ta đều có thể toát lên niềm vui, niềm hy vọng.

Nếu ở bên đống lửa hồng, chúng ta sẽ cảm nhận được sức nóng của nó, làm sao để cho người khác tiếp xúc với chúng ta, họ không phải thất vọng, nhưng cảm thấy mình được sưởi ấm, được lạc quan hơn, trưởng thành hơn trong đời sống đức tin và cả trong mọi mối tương quan cuộc sống.

 Chính khi sống được như thế, là chúng ta đang trả lời cho những ai chất vấn về niềm hy vọng của chúng ta. (1Pr 3,15)
 

[1] Fx. Nguyễn Văn Thuận, “Những người lữ hành trên đường hy vọng”,
tr. 544; ĐHV 978.

Lm. Dom. Đinh Viết Tiên, OP