Ơn gọi của tình yêu

Cuộc sống của con người là quà tặng cao quý của Thiên Chúa. Cuộc sống ấy luôn luôn phong phú và lắm khi rất phức tạp. Dẫu mang trong mình sự mỏng giòn của thân phận tạo vật, nhưng con người được Thiên Chúa mời gọi sống, làm chứng tá cho Ngài trong cuộc sống này qua ơn gọi và sứ mạng của mình. 

ƠN GỌI CỦA TÌNH YÊU

Cát Bụi Hư Vô Bmt


Dàn bài
I. Ơn gọi và tình yêu
II. Khơi nguồn và cùng đích của tình yêu
III. Yếu tố tình yêu trong mọi ơn gọi
IV. Tình yêu của tôi

DẪN NHẬP

Cuộc sống của con người là quà tặng cao quý của Thiên Chúa. Cuộc sống ấy luôn luôn phong phú và lắm khi rất phức tạp. Dẫu mang trong mình sự mỏng giòn của thân phận tạo vật, nhưng con người được Thiên Chúa mời gọi sống, làm chứng tá cho Ngài trong cuộc sống này qua ơn gọi và sứ mạng của mình.

Tôi rất đau lòng khi chứng kiến một số trường hơp các đôi vợ chồng sống với nhau mà thiếu đi tình yêu, tôi cũng từng là “nạn nhân” của không ít người sống đời tận hiến thực hành tình yêu theo kiểu “công quyền”. Phải chăng họ chưa hiểu hết về ơn gọi của mình, cũng như chưa giám nhìn lại thật nghiêm túc về sứ mạng của mình khi tin, và theo Đức Kitô? Phải chăng họ biết, họ hiểu, họ nói được nhưng chưa thực hiện được vì cái tôi của bản thân lớn hơn lời mời gọi của Thiên Chúa? Hoặc là họ đặt những giá trị trần thế lớn hơn giá máu của Đức Kitô đã đổ ra? Tôi cùng bạn điểm lại ơn gọi và sứ mệnh của con người theo ý định ban đầu của Thiên Chúa, cũng như nhìn lại tình yêu của Thiên Chúa được hiện thân nơi Đức Kitô.

I. ƠN GỌI VÀ TÌNH YÊU

Chúng ta vẫn thường nghe rằng: đã là con người luôn mang trong mình một ơn gọi: bạn này sống đời ơn gọi hôn nhân, chị kia đang theo ơn gọi tu sĩ, anh đó sẽ sống đời độc thân . . .

Vậy ơn gọi là gì? Có thể nói ơn gọi là lời mời gọi đầy yêu thương của Thiên Chúa dành cho con người từ thuổ đời đời. Ơn gọi đó đã được Thiên Chúa cất tiếng từ xa xưa như lời bài hát có câu: Từ ngàn xưa Cha đã yêu con[1]

Tiếng gọi đó vang lên không phải từ lúc bạn cử hành bí tích hôn phối, cũng không phải từ lúc tôi tuyên khấn là tu sĩ. Nhưng tiếng gọi tình yêu đó đã vang lên trong bạn và trong tôi khi chúng ta chưa có mặt trong vũ trụ này, xuyên qua không gian và thời gian tiếng gọi ấy đã hiển hiện cách minh bạch qua sự hiện diện của bạn và của tôi. Vì thế, ơn gọi căn bản nhất là ơn gọi làm người và ơn gọi làm con Chúa. Hơn thế nữa, tiếng gọi tình yêu từ ngàn xưa ấy đã vọng lên cách khẩn thiết nơi cuộc đời Đức Kitô ở trần gian, để minh chứng cho loài người thấy ơn gọi của mình được xuất phát bởi Thiên Chúa Cha, được Đức Kitô đóng ấn và được Chúa Thánh Thần đồng hành.

Vì thế, ơn gọi là tiếng gọi mời đầy tình yêu của Thiên Chúa giành cho con người. Ơn gọi căn bản nhất là ơn gọi làm người và làm con Chúa. Tiếp đó, qua các bậc sống của mình con người tiếp tục kiện toàn lời đáp trả tình yêu mà Thiên Chúa đã giành cho họ.

Yếu tố không thể thiếu trong tất cả mọi ơn gọi chính là tinh yêu. Vậy, tình yêu là gì? Ơn gọi tình yêu là gì?

Mọi người đều biết đến tình yêu, mọi người đều có kinh nghiệm của bản thân mình về tình yêu, biết bao trang sách đã ca ngợi vẻ đẹp của tình yêu. Tuy nhiên, mỗi người chỉ nói lên một khía cạnh khác nhau của tình yêu mà thôi. Nhưng có một điều chắc chắn là: không ai phủ nhận sự hiện hữu của tình yêu. Tình yêu cũng là chủ đề được nhiều nhạc sĩ, thi sĩ, văn sĩ… đã dùng tài năng thiên phú của mình  để tìm cách diễn ta, nhưng chẳng có một định nghĩa nào lột tả hết bản chất của tình yêu và làm thỏa lòng con người. Tinh yêu vẫn là một chủ đề luôn không củ mà cũng chẳng mới cho loài người mọi thời đại khám phá .

Thật vậy, nhà thơ Xuân Diệu đã phải thốt lên:         
Làm sao định nghĩa được chữ yêu?

Nếu phải dùng ngôn ngữ để định nghĩa thì con người chỉ có thể diễn tả một khía cạnh nào đó của tình yêu mà thôi. Thế nhưng, có một tình yêu đã để lại cho con người một giá trị vô biên đó chính là tình yêu của Đức Kitô. Đức Kitô đã chết cho nhân loại được sống, đã đau khổ cho nhân loại được hạnh phúc, đã mang trên bản thân mình tội lỗi của nhân loại để con người được tha thứ, đã mang lấy gánh thập giá để gánh cuộc đời của con người trở nên nhẹ nhàng.

Vì thế, “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Ngài đã dạy con người yêu như Ngài đã yêu. Ngài đã sống như Ngài đã dạy. Và Ngài đã chết cho điều Ngài đã sống. Tình yêu sẵn sàng chết cho người mình yêu đó được trải rộng trong lịch sử của dân Israel.

II KHƠI NGUỒN VÀ CÙNG ĐÍCH CỦA TÌNH YÊU

Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ và con người để con người cùng hưởng hạnh phúc với Ngài. Ý định đậm chất tình yêu đó được Thiên Chúa sáng kiến, đi bước trước và không bao giờ Ngài mệt mỏi để đưa con người về với hạnh phúc đích thực. Thánh Ireneo viết rằng: “Thiên Chúa đã không tạo dựng nên Ađam vì Ngài cần đến con người, nhưng để có ai đó mà ban các ơn phúc”[2].

Khi bà Eva và ông Adam đã dùng tự do của mình để đánh mất tình trạng hạnh phúc thuổ ban đầu, cũng là lúc con người phải vất vả lo cho cuộc sống của mình. Tuy nhiên, Thiên Chúa vẫn không bỏ rơi họ. Ngài vẫn kiên nhẫn và trung tín với tình yêu thuổ ban đầu của Ngài và dùng mọi phương thế trần gian: các ngôn sứ, nô lệ, bị lưu đày. . .để uốn nắn, dẫn đưa con người về với Ngài là nguồn mạch, là cùng đích của hạnh phúc. Tình yêu ấy đạt tới đỉnh điểm khi: “Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất thiết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nộ lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người là còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.” (Pl 2,6-8)

Tình yêu của Đức Kitô quả là ánh sáng chiếu dọi ngàn đời cho các ơn gọi thánh hiến và đời sống hôn nhân. Trong khi đôi tân hôn được mời gọi chiếu tỏa tình yêu của mình như tình yêu Đức Kitô dành cho Hội Thánh, thì trong đời sông thánh hiến, tình yêu đó còn được gọi là đức mến luôn được đặt vào vị trí hàng đầu. Nếu trong các “ơn gọi” đó mà không có yếu tố tình yêu thì giống như lời xác quyết của Thánh Phaolo Không có tình yêu thì không có gì tồn tại (1Cr13,1-3).

III YẾU TỐ TÌNH YÊU TRONG TẤT CẢ MỌI ƠN GỌI.

Tình yêu của người tu sĩ hay còn gọi là “đức ai” hay “đức mến”  (Caritas) phải được rập theo khuôn mẫu yêu thương như Đức Kitô, dưới sự soi rọi của Thánh Kinh và Huấn quyền.

Đức mến là nền tảng và cốt lõi của đời sống Kitô hữu, là “con tim” của ơn gọi thánh hiến. Thánh Phaolô quả quyết: «Giả như tôi nói được các thứ tiếng của loài người và của các Thiên thần đi nữa, mà không có đức mến (Caritas) thì tôi chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm choẹ xoang xoảng. Giả như tôi có được ơn nói tiên tri và biết hết được mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả tài đức đến chuyển núi rời non, mà không có đức mến (Caritas), thì tôi cũng chẳng là gì cả. Giả như tôi có đem hết cả gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu chết, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi» (1Cr 13,1-13).

Và Mẹ Têrêxa Calcutta đã để lại cho hậu thế những lời “vàng ngọc” về tình yêu trong đời sống dâng hiến phục vụ

"Ơn gọi là một lời mời gọi để sống trong tình yêu với Thiên Chúa và để minh chứng tình yêu đó.

"Tôi yêu mến Chúa thế nào? Tôi minh chứng tình yêu của tôi cho Thiên Chúa thế nào?

"Thưa, bằng cách làm thật tốt đẹp công việc được trao phó, bằng cách thực hiện một cách đơn sơ những gì Chúa ủy thác cho tôi dưới bất kỳ dạng thức nào.

“ Những người được thánh hiến minh chứng tình yêu của họ đối với Thiên Chúa bằng việc đặt tình yêu đó trong những hành vi sinh động.

"Như thế, dù bạn được trao phó cho bất kỳ công việc gì, với tư cách một tu sĩ, hay một giáo dân - đó là phương tiện cho bạn để bạn dành tình yêu của bạn cho Thiên Chúa trong một hành vi sinh động, trong một hành vi của tình yêu... Bất kỳ khi nào bạn mỉm cười với một người nào đó, nụ cười đó là một hành vi của tình yêu, là một món quà cho người đó, một cái gì thật đẹp...

"Ơn gọi không phải là những gì chúng ta đang làm, hay chúng ta làm được bao nhiêu việc, mà là bao nhiêu tình yêu tôi đã đặt vào công việc tôi đã được trao phó.

"Những gì bạn đang làm, có thể tôi không làm được... Những gì tôi đang làm, có thể bạn không làm được, nhưng tất cả chúng ta đều có thể làm cái gì đó thật đẹp cho Thiên Chúa". [3]

IV. TÌNH YÊU CỦA TÔI

Thuổ bé, khi tôi có ý định muốn theo Chúa, một vài người đã hỏi tôi: “con muốn đi tu để làm gì”? Với một người đang chỉ có “ao ước” theo Chúa thì câu hỏi đó khiến tôi suy nghĩ thật nhiều. Để rồi từ đó, tôi khám phá ra nhiều người khác đã “ gạo cội” trong đời tu đã sống đời thánh hiến với nhiều lý do: “để làm theo thánh ý Chúa”, “ đi tu để theo Chúa”, “để phục vụ Chúa”, “để cứu các linh hồn” . .Câu trả lời của tôi cũng giống như cách thức tôi nhận định về ơn gọi của mình đã thay đổi theo thời gian

Trước hết, Tôi đã vang lên trong suy nghĩ của mình nhiều vấn nạn. Phải chăng đi tu là “quên mình để nghĩ về người khác, để sống cho người khác; là từ bỏ mọi sự, để cùng với Đức Kitô gánh tội trần gian”?. Tuy nhiên, Nếu đi tu chỉ là để “Phục vụ tha nhân”, có lẽ chúng ta đâu cần đi tu, vì ở ngoài đời cũng phục vụ được, và đôi khi còn có thể phục vụ tốt hơn trong đời tu nữa. Thứ đến, phải chăng điều tiên quyết của đời tu là sống tình thân mật với Chúa, phải sống “đời sống tình yêu” của Chúa, với Chúa và trong Chúa?

Quả thật, qua nhiều biến cố trong đời sống dâng hiến tôi xác tín rằng ơn gọi của tôi chỉ bao quanh hai chữ “tình yêu”. Tôi khám phá ra tình yêu của Chúa giành cho tôi. Trong Chúa, tôi cảm thấy mình được Ngài yêu thương và thúc dục tôi dấn thân đáp trả tình yêu đó bằng đời sống chứng tá của mình. Cùng với Ngài, tình yêu đó được tôi diễn tả cho tha nhân là những người Ngài muốn tôi phục vụ.

Tình yêu là một huyền nhiệm, chỉ có người “được yêu” mới dần khám phá ra được chính tình yêu của mình, và truyền thông cho người khác bằng một thứ ngôn ngữ không thể diễn ta được: Ngôn ngữ của tình yêu. Trong đời tu, có lễ ngôn ngữ thông dụng nhất của tình yêu là sự phục vụ, sự trao ban như Đức Kitô đã trao ban chính mình cho tha nhân.

Tình yêu của đời tu được thể hiện mãnh liệt nhất nơi tha nhân. Khi tôi tin nhận hình ảnh của Thiên Chúa nơi tha nhân, tôi mới nhẹ nhàng phục vụ họ như phục vụ Đấng tôi hằng yêu mến và tin theo.  Nếu tôi hiến thánh để thuộc về Thiên Chúa thì tôi càng thuộc về tha nhân. Tình yêu càng lớn lao dành cho Đức Giêsu thì tình yêu ấy phải được dành cho mọi người. Tôi không còn yêu riêng tư, nhưng tình yêu của tôi được thánh hóa để trở nên trong sáng và vô vị lợi cho anh chị em đồng loại. Tôi ý thức tình yêu hiến thánh như thế nên cũng biết rằng, tôi không còn có riêng hoàn toàn những người thân xác thịt như người đời. Tôi đón nhận điều ấy như một giá trị hy sinh lớn lao để rồi họ có thể đón nhận cả gia đình nhân loại như là gia đình, người thân hay là con cái của mình.

Một tình yêu như thế đã không còn dựa trên những giá trị thông thường của thế trần, nhưng đã được tự nhiên hóa nên những giá trị thuộc về Nước Trời mai hậu.

Tôi cảm nghiệm sự phục vụ tha nhân như thế làm cho sự thánh hiến của tôi dành cho Thiên Chúa có một giá trị chân thực và ý nghĩa. Công đồng Vaticanô II trong hiến chế Giáo hội đã không ngần ngại khẳng định: “Đức ái đối với Chúa và tha nhân là dấu chỉ cho biết người môn đệ chân chính của Chúa Kitô. Chính khi sống khiết tịnh, vâng phục, khó nghèo và chịu thiệt thòi, người thánh hiến làm chứng cách hùng hồn và sống động cho Tình Yêu tuyệt đối của Thiên Chúa và toả lan tình Chúa đến cho nhân loại”[4] .

“Đời thánh hiến dùng ngôn ngữ của việc làm để nói rằng lòng mến Thiên Chúa là nền tảng và là thuốc kích thích một tình yêu nhưng không và ân cần”[5]. Dẫu rằng, tôi luôn chân nhận thân phận yếu hèn của một thụ tạo nơi tôi, nhưng tôi tin tưởng và ngày một tiếp tục cố gắng với hêt khả năng để ơn gọi của mình là “biểu lộ tình yêu Thiên Chúa cho thế giới”, đặc biệt là với những người nghèo hèn túng quẫn nhất, những nạn nhân của những “hình thức nghèo đói mới” như thất vọng vì cuộc sống vô nghĩa, nghiện ngập, già cả cô đơn, “nghèo” văn hoá, “nghèo” nhân phẩm, “nghèo” tri thức...[6].

KẾT LUẬN

Nơi đâu có tình yêu nơi đó có sự sống, tình yêu càng lớn thì sự sống càng phong phú. Điều đó đã được thể hiện tất cả nơi Đức Kitô, khởi nguyên của tất cả các ơn gọi và cùng đích của mọi tình yêu. Trước khi bước lên đỉnh cao của sự yêu thương là thập giá, Đức Giêsu đã để lại lệnh truyền cho con người thực hiện nền văn minh tình yêu-văn minh sự sống đó là “ anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”. Vậy, hiện nay, cuộc sống của bạn đang dần đạt đến thứ văn minh nào? Đồ đá hay đồ đồng? Sự sống hay sự chết? Tha thứ hay hận thù? Trấn áp hay phục vụ?

            NẾU KHÔNG CÓ TÌNH YÊU...

Bổn phận khiến người ta dễ nóng giận
Trách nhiệm đẩy người ta tới chỗ bất nhã
Công bằng làm cho người ta đâm ra tàn nhẫn
Sự thật biến người ta thành kẻ ưa xoi mói
Sự khôn ngoan dẫn dắt bạn tới chỗ láu cá
Sự đon đả biến người ta thành kẻ giả dối
Sự am hiểu đẩy bạn trở thành kẻ cố chấp
Quyền lực khiến người ta trở thành kẻ áp bức
Danh tiếng làm bạn trở thành kẻ kiêu ngạo
Của cải làm con người ta trở nên tham lam
Lòng tin biến thành kẻ cuồng tín
Trên đời này bạn không là gì cả.[7]
 
 
[1] Linh mục nhạc sĩ Kim Long

[2] Adversus haereses, IV 14,1

[3] LM. JBM. Phương Anh, CSJB, Taiwan Trích dịch từ "The best Gift is Love / Meditations by Mother Teresa", tr.113-116

[4] Hiến Chế Tín Lý. Về Giáo Hội, 42 b,c,d

[5] Tông Huấn Ðời Sống Thánh Hiến, số 75

[6] Huấn thị Xuất phát lại từ Đức Kitô, số 35-36

[7] TRẦN NGỌC ĐĂNG, Thắp sáng đời dâng hiến, Tủ sách Ra Khơi 2015, tr. 27-37.