Người cha: Một sự nghiệp đáng nhớ


Đức cha Phêrô Nguyễn Huy Mai
Lời ngỏ
“Cây có gốc mới trổ ngành xanh ngọn
Nước có nguồn mới biển rộng sông sâu”
Nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Đức cha, trong tâm tình thảo hiếu tri ân, kính trọng và yêu mến, chúng con, những chị em Dòng Nữ Vương Hòa Bình, xin mãi mãi nhớ về Đức cha với những công lao vô cùng to lớnmà Đức chađã để lại cho Hội dòng chúng con. Đức chakhông chỉ cưu mang,ôm ấp và chở che Hội dòng chúng con trong tình yêu thương vô bờ mà còn gửi lại cho chúng con cả một sự nghiệp đáng nhớ cho tới mãi ngàn sau.
Trong tâm tình tạ ơn Thiên Chúa, và tri ân Mẹ Maria Trinh Nữ Vương, chúng con xin ghi lại đôi nét về sự nghiệp của Đức cha đã in đậm dấu ấn trên Hội dòng chúng con.

1. 
Đồng sáng lập Dòng NVHB
Dòng Đức Maria Nữ Vương Hòa Bình của chúng con được ươm mầm trong tinh thần truyền giáo của Đức cha Paul Léon Seitz (Phaolô Kim). Ngày 01.9.1959, Đức cha đã khai sinh Dòng tại giáo xứ Tân Hương, Giáo phận Kontum. Trong thánh ý nhiệm mầu của Thiên Chúa quan phòng đầy yêu thương, từ năm 1964 đến 1967, Dòng được chuyển dần về Ban Mê Thuột.
Từ ngày 23.8.1967, Đức cha Paul Léon Seitz đã trao Dòng lại cho Đức cha Phêrô Nguyễn Huy Mai, Giám mục tiên khởi Giáo phận Ban Mê Thuột. Đứng trước trọng trách lớn lao này, Đức cha đã soạn thảo lá thư xin phép Tòa Thánh cho thiết lập Dòng Đức Maria Nữ Vương Hòa Bình. Bức thư này mang số 506/69 đề ngày 17.03.1969. Và ngày 22.04.1969, thư xin phép thiết lập Dòng của Đức cha đã được Đức Hồng y Phêrô Agagianian, Bộ trưởng Thánh Bộ “Truyền Giảng Phúc Âm Cho Các Dân Tộc” chuẩn y với văn thư số 2248/69. Trong văn thư này, Tòa Thánh đã ban cho Đức cha quyền ban bố Sắc lệnh thành lập Dòng mới.
Vào ngày 31.5.1969, Đức cha chính thức thiết lập Dòng tại Giáo phận Ban Mê Thuột trong Thánh lễ kính Đức Maria, Trinh Nữ Vương (nay Giáo hội mừng vào ngày 22.08).Đức cha đã dõng dạc tuyên bố: “Ngày hôm nay, 31 tháng 5 năm 1969, do quyền Toà Thánh ban, Cha tuyên bố chính thức thiết lập Dòng chúng con trong Địa phận nhà”(Bài giảng ngày thiết lập Dòng).
Trong ngày thiết lập Dòng, Đức cha đã giảng một bài trọng thể với nội dung rất phong phú và sâu sắc, làm nền tảng cho đường hướng hoạt động và linh đạo của Hội dòng chúng con. Như vậy, Đức cha chính là vị đồng sáng lập Dòng Nữ Vương Hòa Bình cùng với Đức cha Paul Léon Seitz (Phaolô Kim). Vạn sự khởi đầu nan, những tháng ngày khai sáng thật là vất vả gian nan, để hôm nay, chúng con được lớn lên và trưởng thành, chung vai sát cánh với những Hội dòng khác trên cánh đồng truyền giáo của Giáo hội Việt Nam, đặc biệt trên vùng Tây Nguyên.

2. 
Soạn thảo Hiến Pháp
Với sự cộng tác của Cha tuyên úy Phaolô Nguyễn Văn Hòa đạo đức, thông minh và sâu sắc, Đức cha đã soạn thảo bản văn Hiến Pháp, và đã hoàn thành vào ngày 31.05.1973. Sau đó, Đức cha đã cho thi hành tạm trong vòng 5 năm.
Vào ngày 03.02.1977, qua văn thư số 5907/76 của Đức Hồng y Angelo Rossi, Thánh bộ Phúc Âm Hóa Các Dân Tộc đã chuẩn y cho bản Hiến Pháp của Hội Dòng Đức Maria, Nữ Vương Hòa Bình, Giáo phận Ban Mê Thuột. Và ngày 19.03.1977, Đức cha đã phê chuẩn và cho thi hành.
Hiến Pháp mà Đức cha đã soạn thảo như kim chỉ nam ngời sáng, giúp chúng con sống ơn gọi“Nữ Vương Hòa Bình” cách tròn đầy và phong nhiêu.Chính bản “Hiến Pháp” này và bản “Diễn Giải Hiến Pháp” của Đức cha đã tóm gọn tất cả chương trình tu đức và hoạt động tông đồ truyền giáo của Dòng Nữ Vương Hòa Bìnhtrên quê hương thân yêu, đặc biệt cho các anh chị em Dân Tộc trên vùng đất Cao Nguyên này.\

3. 
Các bài giảng Lễ khấn Dòng
Từ khi Đức cha tuyên bố Sắc lệnh Thiết lập Dòng ngày 31.5.1969 cho đến năm Đức cha qua đời (1990), hầu như năm nào Đức cha cũng chủ sự Lễ khấn Dòng và soạn các bài giảng cho chị em chúng con.Những bài giảng này chính là tinh thần và đường lối tu đức của Dòng được Đức cha triển khai cho thấm nhuần sâu xa giáo lý dựa vào Thánh Kinh, phát xuất và khơi sâu từquan niệm Hòa Bình Phúc Âm, mà Chúa Giêsu đã hứa ban cho trần gian: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi”(Ga 14,27).
Đường lối tu đức mà Đức cha dạy dỗ chúng con phải chinh phục Hòa Bình cho mình và cho tha nhân không thể không ngang qua con đường hiến tế: “Chúng con không thể làm sáng danh Thiên Chúa và thánh hóa bản thân ngoài con đường đế vương của Thánh giá.” (Bài giảng ngày thiết lập Dòng).
Nội dung của những bài giảng này, Đức cha thường đem hình ảnh Mẹ Maria ra để nêu gương, cổ vũ, khuyến khích chúng con hăng say, nhiệt thành sống đời tận hiến. Vì trong Bài giảng ngày thiết lập Dòng, Đức cha đã nói: “Hỡi chúng con, hình ảnh Đức Mẹ vội vã trèo non leo núi hăm hở mang Tin mừng Người vừa được loan báo bởi sứ thần Gabriel, lúc này phải khêu gợi cho chúng con trông thấy trước những bóng xa xăm của những nữ tu Dòng Chị Em Đức Maria, Nữ Vương Hòa Bình chúng con mai ngày lũ lượt lên thác xuống ghềnh xông pha ngàn dặm khắp miền Cao Nguyên này để đem PhúcÂm đến tận cùng ngõ hẻm cho mọi gia đình Kinh, Thượng trong Địa phận nhà”.

4. 
Trọn bộ Lời Chúa năm A, B, C\
Đức cha đã miệt mài giải thích cho chúng con hiểu Lời Chúa vào chiều thứ Bảy hằng tuần, trải dài suốt 3 năm phụng vụ A, B, C để chúng con yêu mến, suy gẫm và thực thi như Đức Maria là Thánh bổn mạng của chúng con: “Còn bà Maria thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng” (Lc 2,19). Chính qua Lời Chúa, Đức cha đã dạy chúng con phải trở nên những sứ giả của bình an: Chúa Kitô là nguyên nhân của hòa bình “Vì chính Ngài là sự bình an của ta” (Ep 2,14). Qua đó, Đức cha đã hướng dẫn chúng con sống tinh thần hòa bình của Chúa Kitô dưới ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần, theo gương Đức Maria, đặc biệt trong giai thoại “Đức Mẹ thăm viếng chị họ Elisabeth” để vui vẻ nhiệt thành loan báo Tin Mừng (x. Diễn Giải Hiến Pháp số 3).
Nhờ có Lời Chúa dẫn đường, chúng con sẽ luôn đi trong ánh sáng và bình an, vì “Lời Chúa là đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường cho con đi” (Tv 118, 105). Đi trong bình an là đi trong đường lối của Thiên Chúa. Đi trong đường lối của Thiên Chúa là đi trong tình yêu quan phòng. Đi trong tình yêu quan phòng của Chúa là đi trong niềm vui và hạnh phúc. Đi trong niềm vui và hạnh phúc là để loan báo Tin Mừng bình an. Bởi lẽ, chúng con đang có Chúa Giêsu là Hoàng Tử Bình An và có Mẹ Maria là Nữ Vương Hòa Bình của Dòng chúng con.
Đẹp thay! vượt núi, băng rừng
Người đi loan báo Tin Mừng Bình An
Khơi nguồn Hạnh Phúc tràn lan
Mang Ơn Cứu Rỗi thấm nhuần muôn dân!
(x. Is 52,7)

5. 
Thư chungvề Nhiệm vụ Truyền giáo
Các thư chung, đặc biệt là Thư chung số 6 về “Nhiệm vụ Truyền giáo”, Đức cha đã đề cao vai trò của Chúa Giêsu, vị truyền giáo tiên khởi của Kitô giáo và là Chúa Chiêngương mẫu, đã “từ trời xuống thế”. Qua đó, Đức cha đã định nghĩa thế nào là truyền giáo, nhiệm vụ truyền giáo của Hội Thánh hoàn vũ, của Giáo phận Ban Mê Thuột, và chỉ ra phương cách truyền giáo thích hợp với địa phương. Cuối cùng, Đức cha đã đưa ra chương trình học hỏi để thực thi việc truyền giáo trong Giáo phận nhà.
Qua Thư chung này, chúng con nhận thấy Đức cha rất chú trọng đến công cuộc truyền giáo: “Anh chị em phải đặc biệt quan tâm đến nghĩa vụ tối hệ vừa được trao phó, vì nó làm vững mạnh lòng tin tưởng của Tòa Thánh đối với chúng ta khi thiết lập Địa phận vùng Cao Nguyên; vì nó chứng tỏ sức sống đang lên của đạo Chúa giữa đồi xanh đất đỏ”. Đặc biệt, Đức cha muốn chúng con lưu tâm truyền giáo cho những anh chị em Dân Tộc: “Chúng ta có nhiệm vụ khẩn cấp phải đi đến với anh chị em Thượng trước tiên, để chia sẻ với họ Tin Mừng cứu rỗi mà họ đang mong đợi nơi chúng ta”. Vâng, chúng con xem những thao thức này của Đức cha như là chỉ thị về truyền giáo cho Dòng của chúng con bao năm qua: “Ý của các Bề trên Giáo phận khi chủ trương xây dựng một Hội Dòng, trong hoàn cảnh cụ thể của miền Cao Nguyên, là để có những tông đồ được đi đến với những người thiểu số sống tản mát trong khắp miền. Có thể nói được rằng: đặc điểm hay đoàn sủng riêng biệt của Hội Dòng là truyền giáo giữa anh em Dân Tộc” (Diễn Giải Hiến Pháp số 49).
Để thực thi sứ mạng của Dòng theo Diễn Giải Hiến Pháp số 49 là“Ưu tiên truyền giáo giữa anh em Dân Tộc”,Đức chađã thiết lập một cơ sở đặc biệt, đó là cộng đoàn EA-KMAR (10.06.1970). Đây là cộng đoàn đầu tiên đểchúng con làm quen với phong tục, tập quán và ngôn ngữ của anh em Dân Tộc, hầu làm cho việc phục vụ và công cuộc truyền giáo trên vùng Cao Nguyên đạt hiệu quả tốt hơn.

6. 
Chủng viện Lê Bảo Tịnh
Ngày 25/03/1968, Đức chađã trao bài sai thành lập Chủng viện Lê Bảo Tịnh cho cha Giám đốc Augustinô Maria Nguyễn Văn Tra.
Và ngày 08/09/1968, lễ mừng Sinh nhật Ðức Mẹ Maria, Chủng viện Lê Bảo Tịnh chính thức khai giảng khoá đầu tiên. 
Sau biến cố 1975, các chủng sinh phải ra đi khắp nơi. Ngày 23/6/1983, lễ kính hai Thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô, bổn mạng của Ðức cha, tất cả các chủng sinh còn lại đều phải trở về gia đình sinh sống. Như vậy, Chủng viện Lê Bảo Tịnh chính thức bị giải tán.
Tuy vậy, cho đến nay, tổng số linh mục của Chủng viện Lê Bảo Tịnh thuộc 7 lớp trước 1975 là 35 cha. Ngoài ra, những anh em cựu chủng sinh còn lại là những hạt cải Nước Trời vẫn đang sống xứng đáng với ơn gọi của mình giữa đời thường. Họ đã và đang đảm trách những vai trò trong xã hội và Giáo hội tùy theo từng khả năng và hoàn cảnh mỗi người. Thật vậy, “Nước Trời cũng giống như chuyện hạt cải người nọ lấy gieo trong ruộng mình. Tuy nó là loại nhỏ nhất trong tất cả các hạt giống, nhưng khi lớn lên, thì lại là thứ lớn nhất; nó trở thành cây, đến nỗi chim trời tới làm tổ trên cành được” (Mt 13, 31-32). (Gia đình Lê Bảo Tịnh BMT).
Sở dĩ, chúng con nhắc tới Chủng viện Lê Bảo Tịnh vì Đức cha luôn yêu thương, quý mến các chủng sinh Tiểu Chủng viện cũng như các Đệ tử Nữ Vương Hòa Bình như con cái trong nhà. Đức cha luôn gần gũi, thân mật, gọi tên từng người và tiếp chuyện thân tình. Bởi vì, Đức cha muốn nâng cao tình gia đình Ban Mê Thuột, và tinh thần truyền giáo trong Giáo phận.

7. 
Dòng Nữ Vương Hòa Bình
Sau 23 năm với sự hiện diện và hướng dẫn của Đức cha, vị Giám mục tiên khởi của Giáo phận Ban Mê Thuột, Đấng đồng Sáng lập Dòng Nữ Vương Hòa Bình, cùng với sự dìu dắt của quý Đức cha kế nhiệm, ngày nay, Hội Dòng chúng con đã được phúc lành của hai Đấng Sáng Lập và của quý Đức cha: Giuse Trịnh Chính Trực, Giuse Nguyễn Tích Đức, Phaolô Nguyễn Văn Hòa và Vinh Sơn Nguyễn Văn Bản (Giám mục đương nhiệm).
Qua lời cầu nguyện và hướng dẫn của quý Đức cha, quý cha, quý nữ tu Dòng Thánh Phaolô, quý tu sĩ và cộng đoàn Dân Chúa trong Giáo phận Ban Mê Thuột cũng như quý ân nhân xa gần, Hội dòng chúng con đã được hình thành và phát triển tốt đẹp về nhân sự, đào tạo và sứ vụ.
Năm 1967, Hội dòng chỉ có 78 nhân sự, thì năm 2013 đã lên đến 485 chị em. Các cộng đoàn từ con số 4 rất khiêm tốn, thì nay đã phát triển tới con số 42. Trong số 42 cộng đoàn đào tạo và mục vụ, có 18 cộng đoàn chuyên phục vụ truyền giáo và tái truyền giáo, đặc biệt có 13 cộng đoàn thuần túy phục vụ anh chị em Dân Tộc, trong đó có trại phong EANA. Riêng cộng đoàn Gia Nghĩa, đã có 3 chi nhánh phục vụ cho anh chị em Dân Tộc, như: Trường Xuân, Đăknia, Đăkha. Hầu như các cộng đoàn lo mục vụ giáo xứ đều có phục vụ anh em Dân Tộc. Các chị em phục vụ trong ngành giáo dục cũng ý thức bổn phận của mình đối với phụ huynh và con em Dân Tộc. (Mừng sinh nhật thứ 100 của Đức cha Phêrô Trần Huy Mai).

Lời kết
Nhân dịp kỷ niệm 100 ngày sinh của Đức cha, trong tâm tình “Ôn cố tri tân”, chúng con muốn kể lại sự nghiệp vô cùng lớn lao của Đức cha để cùng nhau bảo tồn những thành quả mà Đức cha đã để lại cho Giáo phận, đặc biệt cho Hội dòng chúng con. Đó là gia sản tinh thần cũng như vật chất mà chúng con không chỉ giữ gìn, nâng niu mà còn phải phát huy, thăng tiến.
Trong tâm tình tri ân, cảm mến và ngưỡng mộ, chúng conquyết tâm noi theođời sống nhân đức thánh thiện, và tấm lòng nhiệt thành truyền giáo của Đức cha. Chúng con nguyện sẽ ưu tiên đến với anh chị em Dân Tộc, những người luôn có một vị trí quan trọng trong trái tim của người tu sĩ Nữ Vương Hòa Bình. Đặc biệt, chúng con sẽ trung thành với linh đạo Hòa bình, đem bình an đến cho những người chúng con phục vụ giữa lòng Mẹ Giáo phận thân yêu, trên núi đồi Cao Nguyên chói chang nắng ấm và thân thương này.
Sr. Matta Minh Chánh